Ví dụ về độ co giãn của cầu theo giá

độ co giãn của cầu theo giá là một trong những từ khóa được search nhiều nhất trên google về chủ đề độ co giãn của cầu theo giá. Trong bài viết này, speedyglobal.vn sẽ viết bài Độ co giãn của cầu theo giá là gì? Tại sao cần độ co giãn của cầu theo giá?

*

trong đó QD biểu thị lượng cầu về hàng hoá, còn P biểu thị giá tiền hiện hành của chính hàng hoá này.

Bạn đang xem: Ví dụ về độ co giãn của cầu theo giá

Vì lượng cầu và giá tiền của một hàng hoá có thiên hướng vận động ngược chiều nhau nên độ co giãn của cầu thường là số âm. Nó cho ta biết khi giá tiền hàng hoá grow up (hay giảm xuống) 1% thì lượng cầu về hàng hoá sẽ giảm (hay tăng) bao nhiêu tỷ lệ. Chẳng hạn, khi eP = -2, điều đó có nghĩa là, nếu mức giá của hàng hoá tăng lên 1%, lượng cầu về hàng hoá sẽ giảm 2%. giá trị tuyệt đối của eP càng to, cầu được nhìn thấy là có độ co giãn càng cao: một sự refresh tương đối nhỏ của giá tiền kéo đến một sự thay đổi tương đối to của lượng cầu về hàng hoá.

Có hai phương thức tính độ co giãn của cầu theo giá: thứ nhất, tính độ co giãn của cầu theo một khoảng giá cả; thứ hai, tính độ co giãn này tại một điểm chi phí.

+Tính độ co giãn của cầu theo khoảng giá cả

Thực chất, cách tính này nhằm trả lời câu hỏi: trong khoảng giá (P1, P2), nếu chi phí cải thiện từ P1 thành P2 và ngược lại, thì độ co giãn của cầu theo giá là bao nhiêu? Giả sử QD1 và QD2 lần lượt là lượng cầu tương ứng với các giá tiền trên. Ta có

*

hướng dẫn tính eP như bí quyết (1) trên đảm bảo được rằng độ co giãn của cầu theo giá khi mức giá thay đổi trong khoảng giá (P1; P2) có một trị giá thống nhất, dù ta xét theo chiều giá đi từ P1 thành P2 hay trái lại, từ P2 thành P1. Ví dụ: tại giá tiền P1 = 40, lượng cầu về hàng hoá QD1 = 60; còn khi giá tăng trưởng thành P2 = 50 thì lượng cầu giảm xuống tương ứng thành QD2 = 55. Với những thông tin này ta đơn giản tính ra: ∆QD = -5; (QD1+ QD2)/2 = 57,5; ∆P = 10 và (P1+ P2)/2 = 45. Theo phương thức trên, eP = (-5/57,5) : (10/45) = -(9/23) = – 0,39. Trong khoảng giá này, cầu tỏ ra rất ít co giãn. con số độ co giãn nói trên cho thấy khi mức giá grow up 1%, lượng cầu chỉ giảm đi khoảng 0,39%. Với phương pháp trên, nếu ta tính eP theo chiều giá giảm từ 50 xuống 40 và lượng cầu gia tăng tương ứng từ 55 lên thành 60 thì trị giá của echẳng phải cải thiện. do đó nó đại diện cho độ co giãn của cầu theo giá khi chi phí refresh trong cung giá từ P1 đến P2.

+ Tính độ co giãn của cầu theo giá tại một điểm giá cả

Nếu ta tính độ co giãn của cầu về một loại hàng hoá tại một mức giá cụ thể P, ta muốn đo xem lượng cầu về hàng hoá sẽ refresh ra sao khi chúng ta tăng hay giảm giá với một sự thay đổi tương đối nhỏ xung quanh giá tiền P. Khi đó, eP được tính theo phương pháp sau:

*


giá trị của (∆QD/∆P) khi ∆P => 0 chính là đạo hàm của hàm Qtính theo đối số P tại điểm P. Đường cầu dốc xuống khiến cho giá trị trên và do đó, eP là âm. ví dụ, cho một hàm cầu có dạng QD = – 0,5P + 80.

Theo bí quyết vừa nêu trên, độ co giãn của cầu theo giá tại giá tiền P = 40 bằng -1/3 hay xấp xỉ -0,33. Nếu mức giá P = 100 thì eP lại bằng – 5/3 hay xấp xỉ bằng -1,67.

phụ thuộc bí quyết (2), có thể thấy độ co giãn của cầu theo giá lệ thuộc vào: 1) giá tiền. Khi giá tiền tương đối cao, độ co giãn của cầu nói chung, tương đối to. 2) Độ dốc của đường cầu ( tỷ số ∆P/∆QD).

Tại cùng một mức giá, đường cầu càng dốc, cầu càng kém co giãn.

ngược lại, đường cầu càng thoải, cầu càng co giãn mạnh. Trong trường hợp này, một sự cải thiện tương đối nhỏ trong giá đủ nội lực kéo tới sự cải thiện tương đối lớn trong lượng cầu.

*


hình 1: Tại mức giá P1, cầu về một hàng hoá biểu thị bằng đường D1 kém co giãn hơn cầu về một hàng hoá khác biểu thị bằng đường D2.

Đằng sau độ dốc của đường cầu ẩn chứa những thành phần kinh tế. Có những hàng hoá, cầu tương đối kém co giãn và đường cầu của những hàng hoá này được thể hiện giống như một đường có độ dốc cao. trái lại, có những hàng hoá không giống, cầu lại co giãn tương đối mạnh theo giá. Đường cầu về chúng được thể hiện như một đường tương đối thoải. Những nguyên nhân quy định độ co giãn của cầu về một loại hàng hoá (theo giá) là:

+ Tính sẵn có của những hàng hoá thay thế

Một hàng hoá càng sẵn có những mặt hàng có khả năng thay thế trên thị trường, cầu về nó càng co giãn. Trong trường hợp này, khi giá tiền của hàng hoá chúng ta đang nghiên cứu grow up, lượng cầu về hàng hoá này có thiên hướng giảm mạnh, vì người tiêu sử dụng đủ sức không khó khăn hơn trong việc chuyển sang sử dụng các hàng hoá thay thế không giống, đã trở nên rẻ đi một cách tương đối. Cầu về một loại hàng hoá trở nên kém co giãn hơn, khi những mặt hàng có cấp độ thay thế nó quá khan hiếm hoi. mức độ sẵn có của những hàng hoá thay thế phụ thuộc nhiều vào độ rộng, hẹp của phạm trù hàng hoá. Phạm trù hàng hoá càng rộng, ví dụ rượu nói chung, diện hàng hoá có mức độ thay thế nó càng hẹp. Khi phạm trù hàng hoá được thu hẹp lại dưới thể loại một dạng hàng hoá cụ thể hơn, ví dụ rượu “Lúa mới”, diện hàng hoá có mức độ thay thế nó phong phú hơn. vì thế, độ co giãn của cầu về rượu “Lúa mới” cao hơn độ co giãn của cầu về rượu nói chung.


+ Tính thiết yếu của hàng hoá

Độ co giãn của cầu theo giá phụ thuộc vào việc hàng hoá mà chúng ta đã nhìn thấy xét là hàng thiết yếu hay xa xỉ. so với một hàng hoá được những người tiêu sử dụng nói chung coi là hàng thiết yếu (chẳng hạn giống như gạo, thuốc chữa bệnh¼), cầu về nó thường kém co giãn theo giá. Tính thiết yếu của hàng hoá liên quan đến việc thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người. người ta luôn cần một khối lượng hàng hoá thiết yếu tương đối ổn định nào đó. Khối lượng này thay đổi không đáng kể trước những thay đổi thông thường của giá tiền. thành ra, cầu về hàng thiết yếu được nhìn thấy là kém nhạy cảm trước sự thay đổi của giá. Khi hàng hoá được coi là hàng hoá xa xỉ (ví dụ đi du lịch nước ngoài), cầu về nó sẽ co giãn mạnh hơn theo giá. Khi giá hàng hoá tăng trưởng cao, trong điều kiện các thành phần không giống như thu nhập vẫn giữ nguyên, vì những người tiêu sử dụng vẫn có khuynh hướng ưu tiên cho việc thoả mãn những nhu cầu thiết yếu nên họ đủ sức tạm hoãn hoặc cắt giảm mạnh việc chi tiêu cho các mặt hàng xa xỉ. Cầu về những hàng hoá này rõ ràng nhạy cảm hơn trước những thay đổi trong chi phí của chúng.

+ yếu tố thời gian

Độ co giãn của cầu theo giá thay đổi theo thời gian. Trong một khoảng thời gian ngắn, cầu về nhiều loại hàng hoá là ít co giãn, trong khi trong dài hạn, cầu về những hàng hoá này lại co giãn mạnh hơn. ví dụ, việc giá xăng tăng làm cho lượng cầu về xăng giảm, song khi sự refresh giá là như nhau, sự cắt giảm lượng cầu về xăng trong ngắn hạn thường nhỏ hơn đối với trong dài hạn. nguyên do là: trong một thời gian ngắn, người tiêu sử dụng tương đối khó điều chỉnh hành vi tiêu sử dụng của mình để thích ứng với việc giá xăng tăng. Họ đủ sức dùng xăng tiết kiệm hơn bằng cách bỏ đi những chuyến đi k thật quan trọng bằng ô tô, xe máy cá nhân. Thế nhưng việc cắt giảm xăng bằng mẹo thay những chiếc ô tô, xe máy ưa chuộng song lại tiêu tốn nhiều xăng bằng những chiếc xe ít “ăn” xăng hơn lại đòi hỏi nhiều thời gian hơn. Điều này càng đúng đối với các công ty vận chuyển – những hộ tiêu dùng xăng lớn. tuy nhiên, nếu khuynh hướng giá xăng tăng cao luôn luôn duy trì trong dài hạn, người tiêu sử dụng sẽ có quá đủ thời gian để refresh hành vi của mình. Vả lại, thời gian càng dài, những cập nhật công nghệ cũng như việc phát minh những năng lượng mới, rẻ tiền hơn thay thế xăng dầu sẽ khiến cho người tiêu dùng có nhiều mức độ chọn hơn. Cầu về xăng theo giá trong lâu dài rõ ràng co giãn mạnh hơn đối với trong ngắn hạn.


không những thế, không hề đối với mọi hàng hoá tình ảnh đều diễn ra theo chiều hướng như vậy. đối với một hàng hoá lâu bền giống như ô tô, tủ lạnh, khi chi phí của chúng tối ưu, lượng cầu ngắn hạn về những hàng hoá này thường giảm mạnh. Những người đang có ý định thay những chiếc ô tô cũ, những chiếc tủ lạnh đang dùng bằng những chiếc ô tô, tủ lạnh mới thường sẽ tạm hoãn lại nhu cầu mua sắm của mình. ngoài ra, nếu giá cả những hàng hoá này k có dấu hiệu giảm xuống, đến một lúc nào đó, họ k thể kéo dài thời gian dùng những chiếc ô tô, tủ lạnh cũ hơn được nữa. Họ vẫn phải mua sắm những chiếc ô tô, tủ lạnh mới. Điều đó cho thấy cầu về những hàng hoá lâu bền trong ngắn hạn lại có khuynh hướng co giãn mạnh hơn theo giá đối với trong lâu dài.

Độ co giãn của cầu theo giá cung cấp một thông tin cần thiết cho các công ty trong việc hoạch định các chiến lược giá cả. Điều này nằm ở chỗ: độ co giãn của cầu theo giá có quan hệ chặt chẽ với tổng thu nhập.

Xem thêm: Thanh Toán Bảo Hiểm Xã Hội 1 Lần Năm 2021, Lĩnh Vực Bảo Hiểm Xã Hội

Tổng thu nhập về một loại hàng hoá chính là số tài nguyên người đọc thu được nhờ sale. Nó bằng khối lượng hàng hoá bán được nhân với đơn giá: TR = P.Q (trong đó, TR là tổng thu nhập, P là giá tiền, Q là sản lượng hàng hoá bán ra).

Khi cầu về hàng hoá là khá co giãn theo giá (tức là khi |eP| > 1), nếu tăng trưởng giá hàng hoá tổng doanh thu sẽ giảm, vì khoản lợi của việc sale hoá với giá cao hơn không bù đắp được thiệt hại do việc giảm khối lượng hàng hoá bán được (do lượng cầu về hàng hoá giảm mạnh hơn).


ngược lại, nếu doanh nghiệp giảm giá hàng hoá, nó sẽ gia tăng được tổng doanh thu. Vì cầu khá co giãn, việc khuyến mãi hàng hoá sẽ làm cho doanh nghiệp gia tăng mạnh được khối lượng hàng hoá bán ra. Khoản lợi này sẽ to hơn khoản thiệt do phải khuyến mại. Tổng thu nhập, do đó, tăng lên.

Khi độ co giãn của cầu theo giá bằng đơn vị ( tức |eP| = 1), sự tăng trưởng giá hay ưu đãi chút ít sẽ không làm tổng thu nhập thay đổi. Trong

trường hợp này, vì cấp độ thay đổi tính theo phần trăm của giá cả và lượng cầu là bằng nhau nên cái lợi doanh nghiệp thu được từ việc tăng trưởng giá cũng bằng với khoản thiệt do nó phải giảm lượng hàng bán ra.

Khi cầu về hàng hoá kém co giãn theo giá (tức là khi |eP| tăng, tổng doanh thu sẽ tăng. ngược lại, nếu giá hàng hoá giảm, tổng doanh thu sẽ giảm. Trong trường hợp này, mức refresh tính theo phần trăm của lượng cầu nhỏ hơn mức refresh của chi phí. do đó, nếu giá hàng hoá tăng trưởng, khoản lợi góp vào doanh thu của sự tăng trưởng giá to hơn mức sụt giảm trong thu nhập do khối lượng hàng hoá bán ra được ít hơn, rốt cục, tổng doanh thu sẽ gia tăng. Trong trường hợp giá giảm, do khối lượng hàng hoá bán ra grow up k đáng kể, nên thiệt hại về thu nhập do giá giảm to hơn khoản lợi về thu nhập do hàng hoá bán được nhiều hơn. Nói cách không giống, nếu giá giảm, tổng thu nhập sẽ giảm.

– Các độ co giãn khác

+ Độ co giãn của cầu theo doanh thu

Độ co giãn của cầu theo thu nhập đo lường cấp độ phản ứng của lượng cầu về một loại hàng hoá trước sự thay đổi của thu nhập trong điều kiện các thành phần khác k thay đổi. Nó được đo bằng tỷ số giữa % cải thiện trong lượng cầu và phần trăm cải thiện trong doanh thu.

Gọi I là thu nhập của người tiêu sử dụng, eI là độ co giãn của cầu theo doanh thu của một loại hàng hoá, ta có:

*


Độ co giãn của cầu theo thu nhập cho chúng ta biết, nếu các điều kiện không giống được giữ nguyên thì khi doanh thu tăng trưởng 1%, lượng cầu hàng hoá sẽ tăng trưởng hay giảm bao nhiêu tỷ lệ.

Tương tự như độ co giãn của cầu theo giá, có thể tính độ co giãn của cầu theo thu nhập theo hai phương pháp: tính theo một khoảng doanh thu và tính tại một điểm thu nhập.

Độ co giãn của cầu theo doanh thu đủ nội lực dương hoặc âm. so với những hàng hoá thứ cấp, khi doanh thu tăng trưởng lượng cầu về hàng hoá giảm ở mọi giá tiền và ngược lại. Điều đó có nghĩa là lượng cầu và mức thu nhập là hai biến số vận động ngược chiều nhau. Nói phương pháp khác eI trong trường hợp này luôn nhỏ hơn 0.

so với các hàng hoá thông thường, khi doanh thu tăng, cầu về hàng hoá luôn luôn tăng trưởng và trái lại. Sự vận động cùng chiều giữa lượng cầu và doanh thu cho thấy, đối với các hàng hoá này eI là một số dương, to hơn 0. tuy nhiên, bằng Quan sát thực nghiệm, người ta nhận thấy rằng, trong các hàng hoá thông thường, có một nhóm hàng hoá, khi thu nhập gia tăng, tuy mức cầu về hàng hoá cũng gia tăng theo song tốc độ tăng trưởng của mức cầu lại nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu. Nói hướng dẫn khác, khi thu nhập tăng trưởng, tỷ trọng chi tiêu của người tiêu dùng về group hàng hoá này trong tổng chi tiêu có thiên hướng giảm. gợi ý, nhóm hàng hoá giúp sức cho nhu cầu ăn uống thuộc loại giống như vậy. group hàng này được gọi là hàng thông thường thiết yếu. đối với chúng, eI tuy lớn hơn 0, song lại nhỏ hơn 1, vì %∆QD ngược lại, ở một nhóm hàng hoá khác, thu nhập càng tăng, nhu cầu mua sắm chúng ở người tiêu sử dụng càng cao; tốc độ gia tăng của lượng cầu to hơn tốc độ gia tăng của doanh thu. Những hàng hoá cao cấp giống như du lịch, nhìn thấy ca nhạc… Là những hàng hoá giống như vậy. Càng màu mỡ, con người càng chi tiêu nhiều cho những hàng hoá loại này. Chúng được gọi là những hàng hoá xa xỉ. so với hàng hoá xa xỉ, do %∆QD > %∆I khi doanh thu I tăng trưởng nên eI là một đại lượng to hơn 1.

Vì là thước đo mức độ thay đổi của nhu cầu khi thu nhập cải thiện nên độ co giãn của cầu theo thu nhập đủ nội lực cho chúng ta những thông tin bổ ích về triển vọng mua bán một loại hàng hoá trong tương lai.


Trong một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, thu nhập của dân chúng tăng trưởng sẽ giúp cho họ refresh dần mô ảnh chi tiêu. Họ dần dần ít chi tiêu hơn cho những hàng thứ cấp và gia tăng mau phần chi tiêu cho những hàng hoá cao cấp hay “xa xỉ”. Những nghiên cứu thực nghiệm nhằm đo lường cụ thể eI đủ sức giúp cho các nhà doanh nghiệp có những quyết định đầu tư hiệu quả.

+ Độ co giãn của cầu theo giá chéo

Độ co giãn của cầu theo giá chéo đo lường giận dữ của cầu về một loại hàng hoá trước sự refresh trong giá cả của một loại hàng hoá không giống. Độ co giãn của cầu về hàng hoá X theo giá của hàng hoá Y được đo bằng tỷ số giữa % refresh trong lượng cầu về hàng hoá X và phần trăm refresh trong giá tiền của hàng hoá Y, trong điều kiện các nguyên nhân không giống là giữ nguyên. Biểu diễn theo mẹo ta có:

*

trong đó eXY là độ co giãn của cầu về hàng hoá X theo giá của hàng hoá Y, QDX là lương cầu của hàng hoá X, PY là giá tiền của hàng hoá Y, ∆ biểu thị mức thay đổi. Các công thức tính eXY cũng được sử dụng tương tự giống như trong trường hợp tính các độ co giãn không giống.


Độ co giãn của cầu theo giá chéo phụ thuộc vào thực chất mối liên kết giữa hàng hoá X và Y. Nếu chúng là cặp hàng hoá bổ sung cho nhau, eXY sẽ có giá trị âm, vì khi giá hàng hoá Y gia tăng thì lượng cầu về hàng hoá X ở mỗi giá tiền (của X) sẽ giảm và ngược lại. Nếu X và Y là những hàng hoá thay thế cho nhau, eXY sẽ có giá trị dương, vì khi giá hàng hoá Y gia tăng, cầu về hàng hoá X sẽ gia tăng và ngược lại. Các hàng hoá này càng có công dụng giống nhau, càng easy thay thế cho nhau, mức độ tăng trưởng trong cầu về hàng hoá X càng lớn khi giá hàng hoá Y tăng trưởng 1%. Điều đó có nghĩa là eXY càng to.


Việc tìm hiểu và thu thập thông tin về độ co giãn của cầu theo giá chéo cũng rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp. Khi sự biến động giá của các mặt hàng khác cũng tác động đến cầu của mặt hàng mà doanh nghiệp dang mua bán, công ty k thể thờ ơ trước diễn biến cung, cầu trên các đối tượng hàng hoá có liên quan.